|

1. Kỹ thuật sản xuất tôm, cá giống
 |
Kỹ thuật sản xuất tôm sú giống
|
 |
Kỹ thuật sản xuất tôm he giống
|
 |
Kỹ thuật sản xuất tôm càng xanh
|
 |
Kỹ thuật sản xuất cá song giống |
 |
Kỹ thuật sản xuất cá giò giống
|
 |
Kỹ thuật sản xuất cá sủ hồng giống
|
Phương pháp cho tôm nước ngọt đẻ
Tôm nước ngọt được nuôi dưỡng và sinh sản chia
làm 3 giai đoạn: Giai đoạn cho tôm mẹ đẻ, giai đoạn nuôi tôm con
và giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn khó nhất là giai đoạn cho
tôm đẻ. Hai giai đoạn sau tương đối dễ làm.
Giai đoạn cho tôm đẻ:
Giai đoạn này quan trọng nhất là môi trường nước
phải trong sạch, thức ăn và cách cho ăn rất quan trọng.
Môi trường nước phải là nước pha. Có thể dùng
nước biển hoặc là nước pha muối (muối này có thể mua để dùng).
Ðể giữ cho nước sạch có hai phương pháp: kỹ thuật tân tiến hay
phương pháp cổ điển.
 |
Phương pháp tân tiến là cho tôm đẻ trong
thùng ở trong nhà và phải kiểm soát các yếu tố về môi trường
rất khó khăn. |
 |
Phương pháp cổ điển là cho tôm đẻ ở ngoài
trời, trong hồ. Phương pháp này đỡ tốn kém. Sau đây là những
tin tức liên quan đến phương pháp cho tôm đẻ tân tiến:
|
Kiểm soát môi trường nước:
Yếu tố chính là bình lọc chất cặn bã trong hệ
thống nuôi tôm mẹ. Bình lọc này dùng nguyên lý sinh học tự nhiên
để các vi sinh vật tự tiêu huỷ các chất dơ bẩn trong môi trường
nước. Không khí với áp suất cao được sử dụng để vận hành lượng
nước từ bình lọc qua hồ nuôi tôm mẹ. Các thành phần chính của hệ
thống này gồm có:
1. Bình chứa nước để nuôi tôm mẹ và cho tôm mẹ đẻ
2. Bình lọc nước
3 & 4. Hệ thống ống dẫn nước
5. ỐNG và lưới chắn để lọc nước và kiểm soát tôm con
6. Ðĩa chắn chặn các vật lắng xuống.
7. Các cục tròn, làm bằng nhựa. Cục này dùng để tăng diện
tích bề mặt để cho vi sinh bám vào dễ hoạt động. Cục nhựa tròn
này phải mua từ đại lý.
8. Bao đựng vỏ sò được nghiền nhỏ bằng đầu đũa để điều hoà
pH.
9. Một miếng nhựa có lỗ nhỏ-dùng để cản và chặn các chất dơ
lại.
10. Làm một miếng vải dày để lọc các chất cặn bã
11& 12. ống khí với áp lực cao để vận hành nước.
13. Chất xúc tác tạo ra vi sinh vật để làm sạch nước. Mua tại
nhà đại lý
Tất cả các vật liệu làm bằng nhựa để không gỉ
sét.
Cho tôm ăn:
Con tôm mẹ khi mang bầu trứng có màu vàng đậm sẽ
đưa vào bể cho sinh sản. Tôm mẹ được bỏ vào lồng nhỏ có cửa.
Lồng nhỏ này được cho vào bồn sinh nở. Trứng nở thành ấu trùng
có thể tự sống được khoảng một thời gian ngắn, có lẽ là 3 đến 4
ngày và phải cho ấu trùng ăn artermia. Artermia làm thức ĂN RẤT
TỐT TRONG GIAI ÐOẠN ẤU TRÙNG CỦA TÔM CON. ẤU trùng được nuôi
khoảng 30 ngày. Sau đó đưa ra nuôi ở hồ nước ngọt khoảng 30 ngày
và khi tôm con lớn khoảng 2 phân thì đưa ra hồ nuôi tôm thịt.
Nuôi khoảng 120 ngày thì tôm có kích thước và trọng lượng khoảng
75 gam một con.
Những điều cần ghi nhớ:
1. Nhiệt độ ấm khoảng 850F là tốt để tôm lớn nhanh.
Việt Nam có thể nuôi hai vụ
2. Ôxy trong ao nuôi rất quan trọng, vì thiếu ôxy tôm sẽ bị
chết. Dùng quạt nước của Ðài Loan thô sơ nhưng rất hiệu quả vì
vừa hoà oxy vừa tạo dòng chảy cho ao hồ.
3. Cần đưa bình lọc vi sinh vào hoạt động 4 tuần trước khi cho
tôm đẻ vì nếu không làm điều này sẽ làm cho nước ô nhiễm làm
chết tôm ấu trùng.
4. Lựa chọn lưới, kích thước, độ rỗng của lưới rất quan trọng
để ấu trùng không lọt ra ngoài.
5. Có thể dùng đèn UV đặt ở đầu vòi nước chảy vào hồ sinh sản
để diêt khuẩn.
6. Lưu ý là trong môi trường nước luôn có khuẩn và cách hay
nhất để bảo vệ tôm cho tăng trưởng nhanh là tạo ra môi trường
nuôi dưỡng tốt để tôm có sức đề kháng lại khuẩn, chống bệnh tật.
7. Cần nghiên cứu thời gian sau 120 ngày khi tôm trong hồ
nuôi-kiểm soát độ tăng trưởng để quyết định có nên kéo dài thêm
ngày nuôi tôm để có thêm lợi nhuận. Bên Mỹ dùng 120 ngày vì thời
gian có nhiệt độ vào mùa ấm rất ngắn.
8. Các nhà nghiên cứu về tôm nước ngọt tại Mỹ rất lạc quan về
ngành này tại Mỹ. Dù mới phát triển nhưng đã có nhiều người đầu
tư và theo các giáo sư Mỹ, Việt Nam là nơi rất có tiềm năng phát
triển tôm nước ngọt.
9. Ðặt đèn Neon trên trần bồn ấu trùng có độ sáng đủ để ấu
trùng bắt mồi.
 |
2. Kỹ thuật sản xuất tôm, cá thương phẩm
Qui trình công
nghệ nuôi tôm sú, tôm he bán thâm canh
1. Tiêu chuẩn ao đầm:
 |
Có bờ chắc chắn, không rò rỉ.
|
 |
Có đáy cát pha hoặc đáy có lớp bùn mỏng.
|
 |
Diện tích càng nhỏ càng dễ chăm sóc và quản
lý. |
 |
Có cống thu và thoát nước dễ dàng.
|
 |
Ðộ mặn đạt từ 10 - 25 phần ngàn.
|
 |
Ðộ pH của nước từ 7 - 8,5.
|
 |
Mức nước trong ao cần đạt từ 0,8 -1,2 m là
đưược. |
 |
Với tôm he chân trắng nên tăng độ sâu ao
khoảng 1,8m để có thể nuôi vào vụ đông
|
2. Chuẩn bị ao đầm:
Mỗi vụ nuôi tôm khoảng 20 -25 ngày phải hoàn
thành việc chuẩn bị ao gồm các bước sau đây:
1. Tháo cạn nước ao, đầm vét lớp bùn ở đáy ao
(nhất là các ao, đầm đã nuôi nhiều vụ).
2. Ðảo lớp mặt đáy ao, đầm khoảng 0,1 - 0,15 m
cho tơi xốp, nhưng tránh không để lớp đất phèn, chua ở dưới đáy
ao bị xới lên, dọn sạch cỏ, cây trên bờ ao.
3. Khử chua bằng vôi: lượng vôi tuỳ thuộc vào
độ chua của lớp đất đáy ao:
|
pH của đất đáy và bờ
ao |
Lượng vôi (Kg/ha ) |
|
4,0 -4,5 |
1500 |
|
4,6 -5,0 |
1250 |
|
5,1 - 5,5 |
1000 |
|
5,6 - 6,0 |
750 |
|
6,1 -6,5 |
300 |
|
6,6 - 7,0 |
100 |
4. Nếu những nơi không phải khử chua, không
thể phơi đáy ao được thì tiến hành diệt tạp như sau:
 |
Tháo nước ao cho hết ở mức thấp nhất, đạt vào
khoảng 0,05 - 0,1 m trên mặt đáy ao là tốt.
|
 |
Sử dụng một trong các loại thuốc diệt tạp như
sau: |
- Hạt bồ hòn giã nhỏ với liều 5-10kg/ha
- Hạt chè giã dập ngâm nước với liều 10 Kg/ha.
- Rễ cây rễ cây ruốc cá giã dập ngâm nưước: 1 Kg/1000 m3 nước,
dùng trước khi thả tôm.
- Thuốc diệt tạp có bán trên thị trường theo hướng dẫn trên
nhãn.
- Nên bón phân hữu cơ trong khi cải tạo phơi đáy ao
- Không nên dùng quá nhiều phân vô cơ trong đáy ao để gây màu
nước.
- Rắc đều thuốc diệt tạp trên mặt ao vào lúc 9-
10 giờ sáng. Buổi chiều tiến hành tháo cạn và nhặt bỏ cá chết.
- Lấy nước vào ao qua lưới lọc để rửa ao 1- 2
lần. Lần cuối cùng nên giữ nưước lại trong ao ở độ sâu 0,8m trở
lên.
5. Bón phân gây thức ăn tự nhiên trong ao.
- Bón phân hữu cơ :
Vào khoảng 10 -15 ngày trước khi thả tôm vào ao,
tiến hành tháo cạn ao để bón phân hữu cơ cho ao nuôi. Sử dụng
một trong các loại phân sau để bón cho 1 ha ao:
 |
Phân bò khô ủ mục : 1000 - 2000 Kg.
|
 |
Phân lợn ủ mục : 500 - 1000 Kg.
|
 |
Phân gà khô ủ mục : 100 - 150 Kg.
|
Rắc đều phân trên mặt ao. Có thể tiến hành bón
đồng thời với việc khử chua cho ao như trên đã trình bày. Sau
khi bón phân tiếp tục lấy nước qua lưới lọc (cỡ mắt nhỏ) vào ao
tới độ sâu 0,8m trở lên.
- Bón phân vô cơ:
Trước 3 - 5 ngày trước khi thả tôm giống, sử
dụng các loại phân vô cơ sau đây để gây mầu nước cho 1ha ao
nuôi:
 |
Urea : 20 - 25 Kg. |
 |
Phân lân : 10 - 15 Kg.
|
Cách bón: Cần hoà các loại phân riêng biệt trong
nưước ngọt, sau đó té đều khắp mặt ao.
3. Làm sạch môi trường ao nuôi:
Tuy đã diệt tạp như mục 2.4 nhưng những mầm mống
gây bệnh cho tôm vẫn có thể tồn tại trong nước (trong phân gia
súc, gia cầm) được cấp vào ao nuôi, vì vậy để làm sạch môi
trường nước nuôi, cũng như để diệt các mầm gây bệnh cho tôm như
E.coli, Aaeromonas v.v... Cần phải dùng chế phẩm vi sinh BRF -
2AQUAKIT (Sản phẩm của công ty công nghệ Việt Mỹ 2 - 3 ngày
trước khi thả tôm vào ao).
Cách dùng chế phẩm BRF - 2:
 |
Liều dùng: 50g BRF - 2 cho mỗi ao nuôi có thể
tích 2500 m3 nước. |
 |
Hoà đều 50g BRF-2 vào 20 lít nước, sục khí để
tăng hàm lượng O2, làm tăng khả năng sinh trưởng cho các vi sinh
vật trong chế phẩm. Sục khí liên tục trong vòng 24 giờ ở nhiệt
độ từ 280c - 320c.
|
 |
Dung dịch trên được phun đều trên mặt ao nuôi
có thể tích 2500m3, mỗi tháng dùng 3 lần (10 ngày một lần), dùng
liên tục cho đến hết vụ tôm.
|
 |
Chú ý: Dung dịch sau khi sục khí được dùng
không quá 72 giờ.
|
4. Thả tôm giống:
1. Mật độ thả:
 |
Ðối với tôm sú P15 là 8 con/m2
|
 |
Ðối với tôm he là 10 - 12 con /m2 .
|
Ðo kích thước 15 - 20 con, nếu kích cỡ tôm nằm
trong khoảng 3 - 5 cm là đạt, nếu tôm có kích thước nhỏ hơn vào
khoảng 2 -3 cm thì mật độ thả tôm phải tăng lên.
2. Kiểm tra chất lượng tôm:
 |
Tôm phải sáng màu, màu sắc phải tương đối đồng
đều. |
 |
Tôm phải khoẻ mạnh, không bơi lờ đờ, không dị
hình, trong bao đựng không có tôm chết.
|
 |
Chọn 150 con tôm giống lấy 1ml formol 38 - 40%
hoà trong 10 lít nước sục khí 30 phút đồng thời thả tôm khi sục
khí, nếu tôm chết dưới 5 con là đạt. Bỏ những con tôm chết và
tôm bơi lờ đờ, thả tôm khoẻ vào ao nuôi.
|
3. Làm tôm thích nghi với ao nuôi:
 |
Trước khi thả tôm giống xuống nước cần thả các
bao đựng tôm mới chở đến xuống ao, sau đó mở miệng túi cho rộng
ra, khoát thêm nước vào túi, để yên chừng 30 - 40 phút rồi mới
từ từ thả tôm ra ao. Nếu tôm bơi tản, hoạt động bình thường là
đạt yêu cầu. |
 |
Thời gian thả tôm vào ao: Sáng sớm 5 - 6 giờ
hoặc chiều mát 18 - 20 giờ. Tránh ngày âm u. Thả ở đầu gió hoặc
thả xung quanh ao nếu trời không có gió.
|
5. Cho tôm ăn:
1. Khối lượng thức ăn cho tôm:
 |
Tháng đầu tiên: Lượng thức ăn bằng 10 - 15 %
khối lượng tôm trong ao. |
 |
Tháng thứ 2: Lượng thức ăn bằng 8 -10 % khối
lượng tôm trong ao. |
 |
Tháng thứ 3: Lượng thức ăn bằng 5 - 8 % khối
lượng tôm trong ao. |
2. Số lần, thời gian và tỷ lệ thức ăn cho tôm
trong ngày.
 |
Lúc 6 giờ cho tôm ăn với khối lượng thức ăn
bằng 25% tổng khối lượng thức ăn trong ngày.
|
 |
Lúc 10 giờ 15% TLTATN
|
 |
Lúc 18 giờ 25% TLTATN
|
 |
Lúc 22 giờ 35% TLTATN
|
3. Phương pháp cho ăn:
 |
Ðặt 5 - 10 khay thức ăn kiểm tra mức độ ăn của
tôm vào các vị trí cố định phân bố đều trong ao. Lấy khoảng 2 -
4 % lượng thức ăn của mỗi lần cho vào các khay kiểm tra, số thức
ăn còn lại rải đều vào một số điểm cố định trong ao.
|
 |
Dựa vào mức độ ăn của tôm trong các khay kiểm
tra để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày của tôm.
|
 |
Có một số gia đình làm sàn đựng thức ăn và đặt
sàn chìm xuống ao , hàng ngày kiểm tra mức độ thừa thiếu thức ăn
ở sàn để điều chỉnh lượng thức ăn cho tôm ngày hôm sau.
|
 |
Ðặt 4 vó cho 0,5 ha ao nuôi để kiểm tra sức ăn
của tôm. |
 |
Số lượng thức ăn còn lại được rải đều khắp ao
nuôi (trừ khu vực góc ao và giữa ao có chất cặn bã ở đó)
|
Chú ý: Vào những ngày râm mát có thể cho tôm ăn
thêm một lần vào lúc 14 giờ với lượng thức ăn điều chỉnh từ 2
lần cho ăn còn lại trong ngày.
6. Quản lý nước:
-Phấn đấu duy trì mức nước trong ao nuôi có độ
sâu từ 0.8 - 1,2 m.
-Không nên thay nước thường xuyên, nếu thay nước
thì phải xem xét toàn vùng để kiểm tra trước.
-Nếu nước thuỷ triều kém cần dùng máy bơm để cấp
thêm nước để duy trì độ sâu theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Nơi nào có độ mặn quá cao trên 30 phần ngàn,
phải bổ xung thêm nước ngọt để có độ mặn thích hợp.
7. Quản lý ao nuôi:
-Kiểm tra bờ, cống cấp, thoát hàng ngày để kịp
thời sửa chữa.
-Thường xuyên vệ sinh lưới chắn rác, lưới lọc,
khay kiểm tra thức ăn, vớt váng, tảo rêu, rác bẩn trong ao.
-Dùng lưới hoặc thuốc diệt tạp kịp thời cá tạp
trong ao.
-Cắm chà để tạo chỗ trú ẩn cho tôm và chống bắt
trộm.
8. Quản lý môi trường và dịch bệnh:
Thường xuyên theo dõi ao nuôi và phát hiện các
hiện tượng bất thường xảy ra trong ao nuôi, lựa chọn các giải
pháp xử lý thích hợp.
9. Thu hoạch tôm:
1. Kiểm tra tôm trước khi thu hoạch.
 |
Dùng chài quăng thu mẫu để kiểm tra khối lượng
trung bình của tôm trong ao. Cách tính khối lượng trung bình của
tôm như sau: |
 |
P= A/m |
 |
Trong đó P là khối lượng trung bình của cá thể
trong ao nuôi. |
 |
A là tổng khối lượng tôm qua n lần chài
|
 |
m là số lượng cá thể tôm thu được của n lần
chài. |
 |
Nếu là tôm sú cần đạt khối lượng trung bình lớn
hơn30 g/cá thể. Nếu là tôm he cần đạt khối lượng trung bình lớn
hơn 12 g/cá thể. |
 |
Về khối lượng như trên là có thể thu hoạch được.
Tuy nhiên nếu thấy có nhiều cá thể vỏ mềm, phải chờ thêm 4 - 6
ngày nữa khi nào tôm cứng vỏ mới thu hoạch.
|
2. Thời gian và biện pháp thu hoạch:
 |
Nên thu hoạch tôm
vào những đêm tối trời.
|
 |
Trong 3 - 4 hôm đầu
sử dụng 6 - 10 đó để thu hoạch dần. Sau đó tháo cạn ao kết hợp
thu tôm bằng đáy. Khi cạn dùng tay nhặt tôm hoặc vợt.
|
 |
Sau khi thu, tôm được rửa
sạch, ướp đá đặt vào thùng cách nhiệt, rồi chuyển ngay tới cơ sở
chế biến.
|
|
KỸ THUẬT
NUÔI TÔM CÀNG XANH |
Chương I:
Một số đặc điểm sinh học
I. vùng phân bố:
Tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới của thế giới. Nhưng chủ yếu là vùng nam và vùng đông
nam châu á, một phần của Ðại Tây Dương và một vài BÁN ÐẢO Ở THÁI
BÌNH DƯƠNG. Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở
vào, là nước có sản lượng tôm càng xanh trong tự nhiên nhiều hơn
cả. Ví dụ: Trong năm 1980 Việt Nam khai thác ngoài tự nhiên
khoảng 6.000 T/năm, Campuchia 100-200, Malaixia 120 T/năm, Thái
Lan 400-500 T/năm (FAO 1979).
Tôm càng xanh có thể di chuyển giống từ vùng này
sang vùng khác của thế giới, những nước không có tôm càng xanh
phân bố trong tự nhiên, hiện đã di giống về nuôi như Ðài Loan,
Pháp, Mỹ... Tôm càng xanh là một loài tôm nuôi có giá trị kinh
tế cao trong diện tích nuôi nước ngọt.
II. Tên khoa học:
|
Ngành |
Arthorpoda |
|
Nghành phụ |
Anterata |
|
Lớp
|
Crustacea |
|
Bộ
|
Decapoda |
|
Bộ
phụ |
Macrara |
|
Họ
|
Palaemonidae |
|
Giống |
Macrobrachium |
|
Loài |
Rosenbergii |
|
Tên tiếng Anh |
Giant prawn |
III. Hình thái và tăng trưởng:
Tôm càng xanh ở nước ta có trọng lượng khá lớn,
con đực đạt 450 g/cá thể. Thân tương đối tròn, cá thể trưởng
thành có màu xanh dương đậm. Chuỷ phát triển nhọn và cong lên
1/2 bề dài tận cùng của chuỷ, trên mắt chuỷ có 11-15 răng, và
3-4 răng sau hốc mắt. Mặt dưới thường có 12-15 răng. Chiều dài
của chuỷ cá thể trưởng thành ở con cái thường bằng hoặc ngắn hơn
vỏ đầu ngực, còn chuỷ con đực dài hơn chiều dài vỏ ngực.
Chân ngực thứ 2 luôn luôn phát triển hơn các
chân khác, nhất là con đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có
hình dạng và kích thước giống nhau ở 2 phía (phải và trái).
Trong quá trình tăng trưởng, con đực thường lớn
nhanh hơn con cái. Khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng
cơ thể đạt 10-20g, tôm càng xanh có phát triển nhanh tương đương
giữa con đực và con cái.
Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột
(Postlarvae) sau 7 tháng nuôi, cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá
thể cái lớn nhất chỉ đạt 50g.
IV. Chu kỳ sống và các giai đoạn biến thái
1- Chu kỳ sống:
Trong quá trình tăng trưởng và phát triển, tất
cả các loài tôm (cũng như các loài giáp xác khác) đều phải lột
bỏ lớp vỏ bên ngoài theo một thời gian nhất định, quá trình này
gọi là lột xác, cùng với quá trình lột xác là sự lớn lên về thể
xác, và trọng lượng. Khi tôm đã trưởng thành, còn có dạng lột
xác sinh sản (xảy ra ở con cái).
Trong vòng đời của tôm càng xanh có 5 giai đoạn
chủ yếu sau:
 |
Trứng - ấu trùng - Tôm bột (postlavrae) - tôm
giống (Juvenile) -Tôm trưởng thành (adult).
|
 |
Mỗi giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện
sống khác nhau, vòng đời của tôm càng xanh được tóm tắt như sau:
|
 |
Khi con cái và con đực trưởng thành, con cái
trứng chín, hiện tượng lột xác xảy ra, con đực và con cái tiến
hành giao vỹ. Sau 2 giờ tôm cái đẻ trứng, trứng được chứa ở
khoang bụng bằng 4 đôi chân bụng. Nếu tôm cái không được giao
vỹ. Vẫn đẻ trứng nhưng sau 2-3 ngày trứng sẽ rụng và rời khỏi
khoang trứng. Trứng thụ tinh được giữ lại ở khoang bụng. Trong
quá trình ấp trứng, các đôi chân bụng hoạt động liên tục, cấp
dưỡng khí cho trứng phát triển, trứng nào bị hư sẽ bị loại ra
bằng đôi chân ngực thứ 2.
|
 |
Thời gian ấp trứng 17-18 ngày ở nhiệt độ nước 27
- 28oc. Số lượng trứng được đẻ ra tỷ lệ thuận với
trọng lượng tôm cái, Trung bình 1g tôm cái cho 700-1000 trứng.
Tôm càng xanh có đặc điểm mắn đẻ, gặp điều kiện thuận lợi, thức
ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4-6 lần trong năm. khi tôm đang ấp
trứng, buồng trứng vẫn phát triển, phóng thích ấu trùng ở bụng
xong, sau 2-5 ngày lại lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp.
|
 |
Trứng thường nở vào ban đêm, sau1-2 đêm mới nở
hết. Trong tự nhiên ấu trùng có thể nở ra vùng nước ngọt hay
nước lợ. Nếu ra vùng nước ngọt ấu trùng phải di chuyển ra vùng
nước lợ để sống, nếu không di chuyển được sau 3-15 ngày sẽ chết
hết. ấu trùng thường sống trong vùng nước có độ mặn từ 7- 8% để
tồn tại và phát triển. Thời gian ấu trùng chuyển thành tôm bột
nhanh nhất là 16 ngày và dài nhất khoảng 40 ngày. Khi chuyển
thành tôm bột, chúng sẽ di chuyển về vùng nước ngọt để phát
triển và tăng trưởng. Lúc này tôm bột có độ thẩm thấu độ mặn
rộng, đó là đặc tính của loài tôm này.
|
2- Các giai đoạn biến thái:
 |
Trứng tôm đẻ ra có hình ellip chiều dài 0.6-
0.7mm, mới đẻ ra có màu vàng cam, trong quá trình ấp màu sẽ
chuyển dần sang xám đậm trước khi nở.
|
 |
ẤU trùng có 11 giai đoạn biến thái, mỗi giai
đoạn có một hình thaí khác nhau, giai đoạn 1 dài 2mm; giai đoạn
11 dài khoảng 7mm. |
 |
Giai đoạn tôm bột: Lúc mới xuất hiện có chiều
dài khoảng 7mm, đặc tính hơi giống tôm trưởng thành. Cơ thể có
màu trong mờ, phía đầu có màu hơi đỏ.
|
 |
Các giai đoạn sau đều có hình dạng giống tôm
bột, chỉ khác nhau về trọng lượng và kích thước.
|
V. Tập tính và bắt mồi:
Tôm càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động
vật, trong tự nhiên khi kiểm tra dạ dày thức ăn gồm có: Nguyên
sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể
các mảnh cá vụn, các loài tảo và mùn bã hữu cơ, cát mịn.
Hình dạng và màu vị thức ăn đóng một vai trò
quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi. Ðiều này rất quan
trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm.
Tôm thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm,
tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng.
Ðặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn
thịt lẫn hau khi lột xác, đây là đặc tính của loài. Trong nuôi
tôm thương phẩm phải chú ý đến hiện tượng này, dùng các biện
pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm.
|