|

CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP
Ở TÔM
Sản xuất tôm trên thế giới những năm gần đây
tăng nhanh là nhờ phương pháp nuôi tôm tốt. Sản lượng tôm nuôi
năm 1991 lên tới 700.000 tấn. Song song tăng về số lượng tôm th́
bệnh tôm ngày phát triển nhiều và xuất hiện nhiều bệnh lạ, chưa
có giải pháp điều trị.
Gần 30 bệnh và hội chứng của tôm nuôi với 2 nguyên nhân nhiễm
trùng và không nhiễm trùng đă được nhiều tài liệu gần đây nhắc
đến, nhưng sự hiểu biết về chúng c̣n rất ít. Một số tác nhân gây
bệnh quan trọng nhất cho tôm nuôi phải kể đến trước tiên là
virus, vi khuẩn nấm và nguyên sinh động vật.
Dưới đây sẽ tŕnh bày khái quát một số bệnh tôm, phương hướng
hiện tại và tương lai trong chuẩn đoán, pḥng và đ́êu trị các
bệnh tôm đó.
1. Bênh do các
virus:
 |
Hiện nay người ta đă phân lập được tới
12 loại virus khác nhau gây bệnh cho tôm nuôi, đó là
IHHNV, HPV, BMN, MRV, BP, REO, YHV, LPV, LOVV, RPS,
WSBV, TSV. Các loại virus này được phân ra 2 loại: Loại
virus DNA và loại RNA. Sáu bệnh virus nặng gây chết đáng
kể cho tôm nuôi cũng được báo cáo: Sự nhiễm bệnh lúc c̣n
ấu trùng và non yếu là phổ biến nhất. Một số virus gây
bênh có tính đặc hiệu với 1 loài hay chỉ một vài loại
tôm, trong khi đó những virus khác biểu hiện khả năng
nhiễm bệnh ở tất cả các loại tôm. |
 |
Hiện nay chưa có phương pháp nào điều
trị bệnh virus ở tôm nuôi thành công. |
 |
Chi tiết từng virus sinh bệnh, cách
chuẩn đoán, pḥng ngừa và điều trị sẽ được tŕnh bày
trong chương VII,VIII. |
2. Bệnh rickettsia:
Rick là vi sinh vật h́nh gậy. Nó gây bệnh cho
các loại tôm. Rick đă được t́m thấy trong các loài tôm
P.MARRGINATUS, Penaeus monodon, P. STYLIROSTRIS, và P. vannamei.
3. Vi khuẩn:
 |
Vi khuẩn gây bệnh cho tôm có thể kể ra
các loại sau: Vibriasis, Luminaus, Epicommensal
Filametous Bacteria, Exoskeletal lesions bacteria,
Indured hepatopancreatilis bacteria. |
 |
Vi khuẩn h́nh roi thuộc nhóm gram âm,
thuộc ḍng Vibrio gây ra hàng loạt bệnh cho tôm, chết
tới 100%. |
 |
Một bệnh gây ra bởi những vi khuẩn đó
được gọi là Vibrio (một loại vi khuẩn gây nhiễm trùng
máu). Vi khuẩn này gây nhiễm bệnh măn tính, bán cấp hoặc
cấp. Nhiều chất hoá học và kháng thể được dùng để điều
trị bệnh vibriosis tôm gồm EDTA, FURANACE, FURAZOLIDON
(NF_180), Errythomycin, Terramycin và Chloramphenicol. |
 |
Vi khuẩn làm hư hại chitin có thể làm
vết thương lan rộng và bài xuất những enzyme ngoại bào.
Vi khuẩn sợi (thường là Leucothrix mucur) có thể tấn
công tôm làm ảnh hưởng tới hô hấp.
|
4. Nấm:
 |
Những bệnh thường gặp ở tôm đó là bệnh
do Larval mycosis, Bệnh Fusarium vv.. Trong nhiều trường
hợp, các nấm có thể gây ra chết hàng loạt, đặc biệt chỗ
ương trứng. ở đấy bệnh mycosis ấu trùng gây chết hoàn
toàn. Mycosis ấu trùng thường được gây ra bởi Lagenidium
callinectes, Sirolpidium sp hoặc Maliphthoros sp. Và
chết tới 100% trong ṿng 48 giờ sau khi nhiễm. Treflan,
Formanganate kali, furanace được dùng để điều trị sự
nhiễm nấm trong khi ương. |
 |
Một bệnh nấm khác gọi là bệnh FUSARIUM
solani. Tất cả các tôm có thể chống lại bệnh này nhưng
có loại tôm P. JAPONICUUS đặc biệt nhạy cảm và có thể bị
chết nhiều khi bị nhiễm nó.
|
5. Nguyên sinh động
vật:
 |
Protozoa gồm các ḍng Epitylis,
Vorticella, Zoothamnium, Microsporidians, Gregarines. |
 |
Tôm rát dễ bị nhiễm bởi Protoza mà nó
luôn có mặt trong môi trường ao nuôi... Nhiều ḍng
Protozoa gây bệnh có thể nêu ra như Zoothamnium,
Epitylis, Vorticella, Acineta và Lagenophrys. Nuôi dầy
và ấu trùng sắp sang giai đoạn trưởng thành có thể bị.
Chúng được điêu trị bởi Chloroqince diphosphate, Saponin
hay formalin 25 ppm. |
 |
Microsporida - là một loại protozoa kư
sinh bên trong làm tôm trắng như sữa. Bệnh xảy ra khi
điều kiện nuôi tôm có lẫn cá.
Gregarine là bệnh đường tiêu hoá của tôm. Khi nhiễm bệnh
này tôm kém ăn, chậm lớn và có khi chết.
|
6. Những bệnh dinh
dưỡng, độc chất và môi trường:
Một số bệnh thuộc loại này là bệnh thiếu
vitamin C đă được biết - đó là bệnh chết đen, bệnh mang tôm đen,
bệnh đỏ tôm, bệnh xanh tôm, bệnh huỷ hoại cơ vv...
Kết quả của sự biểu hiện mức độc chất như là
các kim loại nặng, ozone, hoặc amoniăc và bệnh bóng được ra do
nước quá băo hoà với các khí hơi của không khí. Tất cả các loại
tôm nói chung rất nhậy cảm với các bệnh này.
7. Những bệnh chưa
rơ nguyên nhân:
Ngoài những bệnh trên, c̣n có những bệnh khác do
điều kiện nuôi tôm sinh ra mà người ta chưa phát hiện được
nguyên nhân cụ thể. Chẳng hạn như bệnh tinh dịch đen của con đực
P. vannamei, P. stylirostris và P. setiferus và hội chứng ruột,
thần kinh của tôm P. japonicus cũng như nhiều bệnh khác như bệnh
đầu vàng, hội chứng tôm chết 1 tháng, hội chứng có nhiều lỗ xốp.
-- trở về đầu trang
--
|